Top 10 loài chim bay nhanh nhất thế giới

Sở hữu khả năng bay lượn trên bầu trời là điều tuyệt vời nhất đối với các loài chim, nhưng đâu mới là loài chim bay nhanh nhất? Hãy cùng khám phá 10 loài chim bay nhanh nhất thế giới qua bài viết dưới đây.

10Vịt lặn vai buồm – 117km/h

Vịt lặn vai buồm, tên khoa học Aythya valisineria, là một loài chim trong họ Vịt. Loài vịt này có thể đạt tốc độ bay tối đa vào khoảng 117km/h.

9Chim hải âu đầu xám – 127km/h

Hải âu Laysan còn gọi là Hải âu đầu xám là một loài chim biển cỡ lớn phân bố rộng khắp Bắc Thái Bình Dương. 99,7% số cá thể loài này được tìm thấy trên quần đảo Tây Bắc Haiwaii. Với màu xám và trắng giống với mòng biển, chúng là loài chim hải âu phổ biến thứ hai trong quần đảo Hawaii, với số lượng ước tính khoảng 2,5 triệu cá thể, và hiện số lượng đang mở rộng ra các khu vực đảo lân cận. Hải âu Laysan được mô tả lần đầu bởi Lionel Walter Rothschild vào năm 1893 với tên diomedea immutabilis dựa trên một mẫu vật được tìm thấy tại đảo Laysan. Chính vì vậy, sau này chúng đã được đặt tên là hải âu Laysan.

8Vịt cát ngực đỏ Bắc Cực – 130km/h

Là một loài chim trong họ vịt thường sinh sống ở khu vực bắc bán cầu. Loài chim này có thể đạt tốc độ 130km/h.

7Ngỗng Spur Winged – 142km/h

Ngỗng Spur Winged (Spurwinged goose) có thể bay 142 km/h. Con đực thường nặng khoảng 6 kg, con cái nặng khoảng 4,7 kg. Sải cánh có thể dao động từ 1,5 m đến 2 m. Loài này thường sống ở đồng cỏ gần hồ nước, sông ngòi hoặc đầm lầy ở Châu Phi.

6Chim Cốc biển – 153km/h

Cốc biển là một chi chim biển duy nhất trong họ cùng tên Fregatidae. Có 5 loài trong chi này. Chúng có đôi cánh, đuôi, và mỏ dài và con đực có túi bướu cổ màu đỏ, nó được bơm căng lên vào mùa sinh sản để thu hút con cái. Loài chim này có vận tốc bay tối đa vào khoảng 153 km/h.

5Chim cắt Trung Quốc – 161km/h

Cắt Trung Quốc là một loài chim thuộc chi Cắt trong họ Cắt. Loài này phân bố ở châu Âu, châu Á, châu Phi. Loài cắt này dài 29–36 cm (11–14 in) với sải cánh 74–84 cm (29–33 in) và khối lượng 175–285 g (6,2–10,1 oz) có thể đạt tốc độ bay lên đến 161 km/h.

4Yến đuôi nhọn họng trắng – 170km/h

Yến đuôi nhọn họng trắng là một loài chim thuộc họ Yến (Apodidae). Yến đuôi nhọn họng trắng sinh sản ở ngọn đồi đá ở trung bộ châu Á và miền nam Xibia. Loài này là chim di cư, trú đông ở phía namtiểu lục địa Ấn Độ, Đông Nam Á và Úc. Nó là một loài lang thang hiếm gặp ở Tây Âu, nhưng đã được ghi nhận như xa đến phía tây tận Na Uy, Thụy Điển và Anh. Yến đuôi nhọn họng trắng là loài chim bay nhanh nhất kiểu bay vỗ cánh, có khả năng tốc độ 170 km/h. Loài chim này có đôi chân rất ngắn mà chúng chỉ sử dụng để bám vào bề mặt thẳng đứng. Chúng xây những chiếc tổ của họ ở các khe đá ở các vách đá hoặc cây rỗng. Chúng không bao giờ chủ động đậu trên mặt đất và dành phần lớn cuộc sống của chúng trong không trung, ăn các loài côn trùng mà chúng bắt được.

3Chim cắt Bắc Cực – 209km/h

Cắt Bắc Cực là loài lớn nhất trong Chi Cắt. Loài cắt này sinh sản ở trên bờ biển Bắc Cực và các đảo ở Bắc Mỹ, châu Âu, và châu Á. Nó chủ yếu loài không di trú nhưng một số con lại di chuyển đến các khu vực khác sau mùa sinh sản, hoặc trong mùa đông. Cắt Bắc Cực phân bố ở phần lớn Bắc bán cầu, với số lượng sinh sống ở Bắc Mỹ, Greenland và Bắc Âu. Bộ lông của nó thay đổi theo vị trí, với màu sắc từ trắng toàn thân cho đến màu nâu sẫm. Cắt Bắc Cực là quốc điểu của đất nước Iceland.

2Đại bàng vàng – 321km/h

Đại bàng vàng là một trong những loài chim săn mồi nổi tiếng ở Bắc bán cầu. Loài này thuộc họ Accipitridae. Từng phân bố rộng rãi ở Holarctic (Bắc giới), nó đã biến mất khỏi một số khu vực đông dân cư hơn. Mặc dù đã biến mất khỏi hay không phổ biến trong một số phạm vi phân bố trước đây vì các bệnh lây truyền qua đường tình dục, loài này vẫn còn khá phổ biến, có mặt tại Âu Á, Bắc Mỹ, và các khu vực của châu Phi. Mật độ cao nhất của đại bàng làm tổ trên thế giới nằm ở phía nam quận Alameda, tiểu bang California. Đại bàng vàng có màu nâu sẫm, với bộ lông nâu vàng nhẹ trên đầu và cổ.

Đại bàng vàng sử dụng sự nhanh nhẹn và tốc độ của kết hợp với móng vuốt cực kỳ mạnh mẽ để chộp một loạt các con mồi, bao gồm thỏ, marmota, sóc đất, và các động vật có vú lớn như cáo và các động vật móng guốc non. Chúng cũng ăn xác thối nếu con mồi sống khan hiếm, cũng như các loài bò sát. Các loài chim, bao gồm cả các loài lớn lên đến kích thước của thiên nga và sếu đã được ghi nhận là con mồi của loài đại bàng này. Trong nhiều thế kỷ, loài này là một trong những loài chim được đánh giá cao nhất được sử dụng làm chim nuôi đi săn, với các phân loài Á-Âu đã được sử dụng để săn và giết chết con mồi như sói xám(Canis lupus) trong một số cộng đồng bản địa. Do tính can đảm săn mồi, đại bàng vàng được một số nền văn hóa bộ lạc, cổ xưa xem là loài tôn kính thần bí.

1Chim cắt lớn – 389km/h

Cắt lớn là một loài chim trong chi Cắt ở Bắc Mỹ. Loài chim này có sải cánh rộng là kẻ nhanh nhất trong giới động vật, với những cú liệng xuống dưới đạt tốc độ hơn 322 km/h (200 mph).

Phạm vi sinh sản của loài chim cắt này bao gồm các vùng đất từ lãnh nguyên Bắc Cực tới nhiệt đới. Nó có thể được tìm thấy gần như ở khắp mọi nơi trên trái đất, ngoại trừ những khu vực cực kỳ gần các địa cực, những ngọn núi rất cao, và hầu hết các khurừng mưa nhiệt đới; khối lục địa lớn không băng giá duy nhất mà nó hoàn toàn không có mặt là New Zealand. Điều này làm cho nó trở thành loài chim ăn thịt phổ biến rộng khắp nhất trên thế giới và là một trong những loài chim được tìm thấy rộng khắp nhất. Danh pháp khoa học của loài này có nghĩa là “chim cắt lang thang”, đề cập đến tập tính di trú của các quần thể chim phương Bắc.

Trong khi chế độ ăn uống của loài này bao gồm gần như chủ yếu là các loài chim có kích thước trung bình thì nó đôi khi cũng săn bắt cả các loài động vật có vú hay bò sát nhỏ, hoặc thậm chí cả côn trùng. Loài này thành thục sinh dục trong một năm, cặp chim trống mái sống với nhau trọn đời và làm tổ trong hốc, bình thường trên mép vách đá hoặc, trong thời gian gần đây, trên các cấu trúc nhân tạo cao. Loài cắt này trở thành loài nguy cấp tại nhiều nơi do thuốc trừ sâu, đặc biệt là DDT. Kể từ khi có sự cấm sử dụng DDT từ đầu những năm 1970, các quần thể loài này đã phục hồi, được hỗ trợ bởi sự bảo vệ những nơi làm tổ ở quy mô lớn và sự thả ra tự nhiên.